Hiển thị các bài đăng có nhãn Tin tức xuất khẩu lao động. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tin tức xuất khẩu lao động. Hiển thị tất cả bài đăng

Được vay vốn ưu đãi khi xuất khẩu lao động

tháng 11 19, 2019 Add Comment
Đó là nội dung được hướng dẫn tại Văn bản số 7886/NHCS-TDNN ngày 24/10/2019 của Ngân hàng chính sách xã hội về nghiệp vụ cho vay với người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

Vay vốn với lãi suất ưu đãi

Hướng dẫn số 7886/NHCS-TDNN nêu rõ, người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng được vay tối đa bằng 100% chi phí đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đã ký kết giữa người lao động và doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.

Được vay vốn ưu đãi khi xuất khẩu lao động

Lãi suất cho vay ưu đãi đối với người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng bằng lãi suất cho vay vốn đối với hộ nghèo do Chính phủ quy định, từng thời kỳ (hiện nay, lãi suất cho vay hộ nghèo là 6,6%/năm).

Riêng đối tượng vay vốn là người lao động thuộc hộ nghèo hoặc người dân tộc thiểu số được vay vốn với mức lãi suất bằng 50% lãi suất cho vay đối với hộ nghèo do Chính phủ quy định từng thời kỳ.

Vốn vay trên được sử dụng vào việc chi trả các khoản chi phí đi làm việc ở nước ngoài theo quy định được ghi theo hợp đồng ký kết giữa người lao động và doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.

Thời hạn cho vay đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng không vượt quá thời hạn làm việc ở nước ngoài của người lao động ghi trong hợp đồng ký kết giữa người lao động và doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.

06 đối tượng được vay ưu đãi

Theo Hướng dẫn số 7886/NHCS-TDNN, có 06 đối tượng được vay vốn ưu đãi khi đi làm việc ở nước ngoài, cụ thể:

Một là, người lao động thuộc hộ nghèo theo chuẩn nghèo được Thủ tướng Chính phủ quy định từng thời kỳ.

Hai là, người lao động thuộc diện hộ cận nghèo theo chuẩn cận nghèo được Thủ tướng Chính phủ quy định từng thời kỳ.

Ba là, người lao động là người dân tộc thiểu số.

Bốn là, người lao động là thân nhân của người có công với cách mạng. Thân nhân người có công với cách mạng được Ủy ban nhân dân xã xác nhận theo Mẫu số 4 ban hành kèm theo Nghị định số 74/2019/NĐ-CP ngày 23/9/2019 của Chính phủ.

Năm là, người lao động bị thu hồi đất gồm: Người lao động thuộc hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp đã được Nhà nước giao đất nông nghiệp theo quy định (trừ trường hợp hộ gia đình, cá nhân là cán bộ, công nhân viên của nông trường quốc doanh, lâm trường quốc doanh đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc được hưởng trợ cấp) khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp mà được bồi thường bằng tiền đối với diện tích đất nông nghiệp thu hồi; Người lao động thuộc hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất ở kết hợp kinh doanh, dịch vụ mà phải di chuyển chỗ ở.

Sáu là, người lao động tại các huyện nghèo có nhu cầu đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

Người lao động huyện nghèo được vay 100% vốn đi xuất khẩu lao động

tháng 9 12, 2019 Add Comment
Theo quyết định vừa được Thủ tướng Chính phủ ký ban hành, người lao động tại huyện nghèo đi làm việc ở nước ngoài (xuất khẩu lao động) theo hợp đồng đến năm 2020 được vay vốn tối đa 100% chi phí đóng theo hợp đồng với doanh nghiệp.

Mới đây, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã ký Quyết định 27/2019/QĐ-TTg về tín dụng đối với người lao động tại huyện nghèo đi làm việc ở nước ngoài (xuất khẩu lao động) theo hợp đồng đến năm 2020.

Theo đó, điều kiện cho vay gồm: người lao động có hộ khẩu thường trú từ 12 tháng trở lên tại các huyện nghèo, có nhu cầu đi xuất khẩu lao động (XKLĐ) theo hợp đồng.

Người lao động được phía nước ngoài chấp nhận vào làm việc và đã ký hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp theo quy định của pháp luật.

Để được vay vốn, người lao động lập hồ sơ vay vốn gửi trực tiếp hoặc thông qua doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp đến Ngân hàng Chính sách xã hội cấp huyện, nơi người lao động có hộ khẩu thường trú.

Trong thời 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, Ngân hàng Chính sách xã hội cấp huyện thẩm định và phê duyệt. Trường hợp không phê duyệt, phải có văn bản gửi người lao động nêu rõ lý do.

Người lao động huyện nghèo được vay 100% vốn đi xuất khẩu lao động
Người dân huyện nghèo được vay vốn tối đa 100% chi phí hợp đồng ký với doanh nghiệp. 

Về mức vốn vay, người lao động được vay tối đa 100% chi phí đóng theo hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài đã ký với doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp theo quy định pháp luật. Đồng thời, người lao động được vay vốn theo quy định nêu trên mà không phải thực hiện bảo đảm tiền vay.

Về lãi suất cho vay, người lao động thuộc hộ nghèo, người dân tộc thiểu số được vay với lãi suất bằng 50% vay vốn đối với hộ nghèo do Chính phủ quy định. Người lao động khác tại huyện nghèo được vay bằng lãi suất vay vốn đối với hộ nghèo do Chính phủ quy định. Lãi suất nợ quá hạn bằng 130% so với lãi suất vay vốn quy định nêu trên.

Thời hạn cho vay không quá thời gian làm việc ghi trong hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài ký giữa người lao động với doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp theo quy định pháp luật.

Về việc trả gốc, lãi vay và xử lý nợ, Ngân hàng Chính sách xã hội thỏa thuận với người lao động về việc trả gốc nhưng tối đa không quá 12 tháng/lần. Trường hợp đến hạn, người lao động không trả được nợ thì Ngân hàng Chính sách xã hội theo dõi vào kỳ tiếp theo.

Lãi tiền vay được thu theo kỳ hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng hoặc sổ vay vốn. Nếu người lao động có nhu cầu trả lãi theo tháng thì Ngân hàng Chính sách xã hội thực hiện thu theo đề nghị của người lao động.

Người lao động huyện nghèo được vay 100% vốn đi xuất khẩu lao động
Đi XKLĐ là cơ hội để người lao động kiếm thêm thu nhập, cải thiện kinh tế gia đình.

Về nợ rủi ro vốn vay đối với người lao động đi XKLĐ theo hợp đồng, Ngân hàng Chính sách xã hội chịu trách nhiệm xử lý theo quy định pháp luật.

Quyết định này có hiệu lực thi hành từ ngày 25/10/2019 và được thực hiện giải ngân đến hết ngày 31/12/2020. Quyết định số 71/2009/QĐ-TTg ngày 29/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án hỗ trợ các huyện nghèo đẩy mạnh xuất khẩu lao động góp phần giảm nghèo bền vững giai đoạn 2009 - 2020 hết hiệu lực thi hành kể từ ngày 25/10/2019.

Người lao động đã vay vốn tại Ngân hàng Chính sách xã hội theo quy định tại Quyết định số 71/2009/QĐ-TTg trước ngày 25/10/2019, đang trong thời hạn vay thì tiếp tục thực hiện theo hợp đồng vay vốn đã ký kết.

Trường hợp người lao động đã ký kết hợp đồng lao động đi làm việc ở nước ngoài trước ngày 25/10/2019 nhưng chưa vay vốn, được thực hiện cho vay theo quy định tại quyết định này.

Rộng cửa cho lao động Việt vào Nhật

tháng 8 13, 2019 Add Comment
Tính đến nay, các công ty xuất khẩu lao động Việt Nam đã đưa hơn 200.000 thực tập sinh sang Nhật làm việc, vượt qua Trung Quốc để trở thành nước dẫn đầu về số lượng lao động đang làm ở Nhật.

Ông Vũ Quang Hoàng, Chủ tịch Công ty trách nhiệm hữu hạn và hợp tác lao động Laco (Lacoli) cho biết, việc Cơ quan Quản lí Xuất nhập cảnh của Nhật Bản quyết định tăng hỗ trợ tài chính cho các chính quyền địa phương trên khắp cả nước để giúp họ đáp ứng nhu cầu của lao động nước ngoài, mở ra thêm nhiều cơ hội việc làm đối với lao động nước ngoài, trong đó có lao động Việt Nam, đặc biệt là trong các ngành: Chế biến thực phẩm, thủy hải sản, may mặc, điện tử, mộc, xây dựng, cơ khí,…

Rộng cửa cho lao động Việt vào Nhật
Lớp thực tập kỹ năng của điều dưỡng viên Việt Nam trước khi sang thực tập tại Nhật Bản

Cơ hội cho lao động Việt Nam

Ông Quang nhận định, với nhu cầu tuyển dụng lớn, điều kiện làm việc, tiền lương hấp dẫn, Nhật Bản thường được chọn là thị trường chính của nhiều doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu lao động. Chính vì vậy, các chính sách của chính phủ Nhật Bản trong lĩnh vực này luôn được quan tâm và theo dõi.

Cùng với đó, người lao động Việt Nam mới chỉ tập trung vào các vùng như khu công nghiệp trọng điểm Kanto, Hokkaido,… Do đó, việc hỗ trợ tài chính trong mấy tháng tới do nhiều chính quyền địa phương sẽ mang thêm nhiều cơ hội làm việc tại các tỉnh, vùng miền khác tại Nhật Bản cho người lao động Việt Nam.

Tại thời điểm hiện tại, ước tính toàn nước Nhật thiếu tới 586.400 lao động. Theo dự báo, trong vòng 5 năm tới, Nhật Bản sẽ tiếp nhận tối đa 345.500 người vào làm việc trong 14 ngành nghề do tình hình thiếu hụt lao động tại các doanh nghiệp Nhật Bản ngày càng trầm trọng nhất là vùng nông thôn do các vấn đề về chính sách nhập cư.

Điểm yếu của lao động Việt Nam so với các nước trong khu vực như Thái Lan, Malaysia… vẫn còn nằm ở yếu tố ngôn ngữ.

Do đó, để thu hút lao động nước ngoài từ tháng 4/2019- 4/2020, chính phủ Nhật có kế hoạch tiếp nhận 32.800 lao động, trong đó lớn nhất sẽ là lao động trong lĩnh vực nông nghiệp với 7.300 lao động, nhân viên vệ sinh các toà nhà với 7.000 lao động, ngành thực phẩm, đồ uống với 6.800 lao động.

Mặt khác, Nhật Bản đã mở rộng các lĩnh vực, ngành nghề có khả năng tiếp nhận thêm những lao động nước ngoài đòi hỏi trình độ thấp hơn bậc kỹ sư nhưng cao hơn trình độ thực tập sinh.

Tận dụng cách nào?

Tính đến nay, các công ty xuất khẩu lao động Việt Nam đã đưa hơn 200.000 thực tập sinh sang Nhật làm việc, vượt qua Trung Quốc để trở thành nước dẫn đầu về số lượng lao động đang làm ở Nhật.

Mặc dù vậy, PGS.TS Carola Hommerich, chuyên gia nghiên cứu Nhật Bản, nhận định, hiện nay, điểm yếu của lao động Việt Nam so với các nước trong khu vực như Thái Lan, Malaysia… vẫn còn nằm ở yếu tố ngôn ngữ. Việc không biết rõ ngôn ngữ, đặc biệt là tiếng Nhật sẽ hạn chế sự hòa nhập, bao gồm việc giao tiếp với đồng nghiệp và hiểu rõ quyền lợi của mình.

Nhật Bản cũng đang ưu tiên các nguồn lao động, thực tập sinh chất lượng, có tay nghề cao trong các lĩnh vực công nghệ cao, trí tuệ nhân tạo... Từ tháng 4/2019, Chính phủ Nhật Bản đã tăng cường tiếp nhận các lao động Việt Nam với visa kỹ năng đặc thù với hy vọng ngày càng có nhiều người Việt Nam sang Nhật Bản học tập và lao động. 

Thị trường xuất khẩu lao động truyền thống vẫn chiếm thế “áp đảo”?

tháng 8 07, 2019 Add Comment
Theo số liệu từ Cục Quản lý lao động ngoài nước (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội), trong 6 tháng đầu năm 2019, tổng số lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là 66.983 lao động (18.995 lao động nữ). Con số này đạt 55,82% kế hoạch năm 2019, kế hoạch đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2019 là 120.000 lao động.

Thị trường truyền thống vẫn chiếm thế "thượng phong"

Ông Nguyễn Gia Liêm, Phó cục trưởng Cục Quản lý lao động ngoài nước đánh giá, tình hình xuất khẩu lao động 6 tháng đầu năm 2019 không có sự thay đổi rõ rệt về thị trường tiếp nhận. Trong đó, những thị trường tiếp nhận truyền thống vẫn chiếm thế "thượng phong" là Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc…

Thị trường xuất khẩu lao động truyền thống vẫn chiếm thế “áp đảo”?

Thời gian qua, Cục Quản lý lao động ngoài nước cũng đã hoàn tất thủ tục trình Bộ cấp mới giấy phép cho 25 doanh nghiệp. Hiện, số doanh nghiệp có giấy phép hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài là 328 doanh nghiệp.

Nửa đầu năm 2019, công tác phát triển thị trường lao động ngoài nước, ký kết các hiệp định và thỏa thuận song phương theo ông Liêm là có nhiều điểm sáng. Trong đó, tại thị trường Đài Loan, đã nghiên cứu xây dựng phương án gia hạn/ký hợp đồng với chủ sử dụng mới dành cho lao động Việt Nam làm việc tại đây hết hạn hợp đồng được gia hạn hoặc chuyển chủ mới để không phải về Việt Nam.

Với thị trường Nhật Bản, hai nước đã đàm phán thành công và ký kết Bản ghi nhớ hợp tác giữa Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Việt Nam và các bộ, ngành của Nhật Bản về phái cử lao động kỹ năng đặc định sang nước này làm việc.

Tại thị trường Hàn Quốc, Cục Quản lý lao động ngoài nước đã triển khai thực hiện Bản ghi nhớ 2019 giữa Việt Nam - Hàn Quốc về việc thi tiếng Hàn và tuyển 7.900 lao động đi làm việc tại Hàn Quốc theo chương trình cấp phép việc làm.

Ngoài ra, từ ngày 6/6/2019, Cộng hòa Séc chính thức mở lại việc cấp visa dài hạn cho công dân Việt Nam. Đại sứ quán Cộng hòa Séc tại Hà Nội trực tiếp tiếp nhận hồ sơ xét duyệt đợt đầu cho 200 công dân Việt Nam sẽ sang Cộng hòa Séc làm việc từ tháng 8/2019.

Tiềm năng lớn từ thị trường Nhật Bản

Với những tín hiệu tích cực từ kết quả xuất khẩu lao động 6 tháng qua, ông Nguyễn Gia Liêm nhận định, tình hình nửa cuối năm 2019 được dự báo là rất phát triển và đẩy mạnh thị trường qua nhiều nước, thêm nhiều lĩnh vực tiếp nhận.

Xu hướng trong các tháng tới, những thị trường truyền thống vẫn tiếp tục có nhu cầu lớn tiếp nhận lao động Việt Nam, đặc biệt là hai thị trường Đài Loan và Nhật Bản, đây cũng là hai thị trường hiện tiếp nhận lao động Việt Nam với quy mô lớn nhất, chiếm trên 90% tổng số lao động đi trong thời gian qua.

Trong đó, Nhật Bản đang là thị trường tiềm năng nhất hiện nay. Cùng với việc ký bản ghi nhớ gần đây, ông Nguyễn Gia Liêm cho biết, Nhật Bản hiện là thị trường hấp dẫn hơn cả với lao động Việt Nam. Cùng với bối cảnh già hóa dân số và tỷ lệ sinh thấp nên những năm gần đây, nước này luôn có nhu cầu tiếp nhận lao động nước ngoài nói chung và lao động Việt Nam rất lớn.

Tại Việt Nam, những năm qua số lượng lao động được phái cử sang nước này cũng liên tục tăng, năm 2018 đã đưa được 69.000 lao động sang làm việc, còn tính riêng 6 tháng đầu năm nay con số này là hơn 33.000 người. Cùng với đó, hiện Nhật Bản cũng đang tăng cường tiếp nhận thực tập sinh Việt Nam đến năm 2025 và lao động có thể gia hạn đến 10 năm.

Bên cạnh các thị trường truyền thống, trong những tháng tới, khu vực các nước Châu Âu cũng có xu hướng gia tăng thị phần, song lại có sự suy giảm đáng kể về quy mô lao động sang thị trường một số nước tại khu vực Trung Đông, Malaysia. 

Đây là những thị trường có thu nhập trung bình nên không còn thu hút lao động Việt Nam, thay vào đó, người lao động đang có xu hướng dịch chuyển sang làm việc chủ yếu ở các thị trường thu nhập cao hơn. 

Đưa lao động đặc định sang Nhật: Mở thêm cửa nhưng sẽ giám sát chặt

tháng 7 11, 2019 Add Comment
Không chỉ dừng lại ở xuất khẩu thực tập sinh, mới đây Việt Nam còn đưa lao động kỹ thuật cao sang Nhật Bản làm việc. Để đảm bảo chương trình không bị kẻ xấu trục lợi, mới đây Việt Nam – Nhật Bản đã ký kết văn bản MOC nhằm thực thi tốt hơn chương trình này.

Thận trọng trước những “điều tiếng”


Theo thống kê của Cục Quản lý lao động ngoài nước (Bộ LĐTBXH), năm 2018 là năm thứ 3 liên tiếp, số lượng lao động Việt Nam sang làm việc ở nước ngoài dưới diện xuất khẩu lao động vượt mức 100.000 lao động. Cụ thể, năm 2018 có 142.860 lao động Việt Nam đi làm việc ở hơn 40 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Bên cạnh việc duy trì các thị trường truyền thống, Việt Nam đã có những nỗ lực thúc đẩy tìm kiếm cơ hội việc làm tại thị trường tiềm năng Nhật Bản. Nhờ vậy, trong năm 2018, thị trường XKLĐ đi Nhật Bản đã vươn lên soán ngôi đầu thay vì thị trường Đài Loan như năm 2017.
 

Đưa lao động đặc định sang Nhật: Mở thêm cửa nhưng sẽ giám sát chặt
Thực tập sinh Việt Nam được đào tạo bài bản trước khi ra nước ngoài làm việc.

Cũng năm 2018, Việt Nam đã đưa được hơn 68.000 lao động đi Nhật Bản làm việc và con số này ở Đài Loan là hơn 60.000. Tuy nhiên, không dừng lại ở việc đưa lao động phổ thông sang Nhật Bản làm việc thông qua con đường thực tập sinh kỹ năng, mới đây, Việt Nam đã bắt đầu đưa lao động sang Nhật Bản làm việc qua con đường lao động đặc định (lao động kỹ thuật cao).

Quốc hội Nhật Bản đã thông qua chính sách mới mở rộng cửa chào đón lao động kỹ thuật cao nước ngoài đến làm việc tại Nhật Bản. Theo dự báo, trong vòng 5 năm tới, Nhật Bản sẽ tiếp nhận tối đa 345.500 người vào làm việc trong 14 ngành nghề. Đây sẽ là cơ hội tốt cho lao động Việt Nam muốn tìm kiếm các công việc kỹ thuật cao, mức lương hợp lý...

Mặc dù có nhiều thành công trong việc đưa lao động sang Nhật Bản làm việc nhưng thời gian qua hoạt động XKLĐ ở thị trường này cũng có khá nhiều “điều tiếng”.

Lao động N.T.N, 25 tuổi (Thanh Hóa) cho biết, năm 2016 N học xong trung cấp thú y nhưng về quê không xin được việc làm. Sau thời gian đó, anh có nhu cầu đi XKLĐ và được người anh cùng quê giới thiệu đi làm việc ở Nhật Bản. Ban đầu người môi giới cho N đến một công ty du học và nói sẽ lo thủ tục để N sang Nhật. Khi N hỏi về việc sao đi làm lao động (thực tập sinh kỹ năng) mà công ty lại làm hồ sơ cho N đi du học thì họ trả lời là đi du học nhưng thực chất là vừa học vừa làm.

Quá tin lời người môi giới, N đã nộp hơn 150 triệu đồng để được đưa sang Nhật vừa học vừa làm. Thế nhưng tới Nhật, N mới té ngửa vì diện visa của mình sang là đi học và bị khống chế giờ làm thêm. N cũng không được phía công ty phái cử hỗ trợ chi phí lo chỗ ăn, ở... tiền làm thêm giờ không đủ để N trang trải tiền ăn ở. N và nhiều du học sinh khác còn thường xuyên phải  chạy trốn vì bị cơ quan chức năng săn lùng.

Thực tế, việc thực tập sinh kỹ năng và du học cũng như lao động đặc định là 3 diện khác nhau. Thế nhưng vì thiếu hiểu biết, nóng vội mà nhiều lao động ở các vùng quê đã trở thành con mồi ngon cho các đối tượng cò mồi, môi giới.

Giấc mơ lương nghìn USD

Hiện nay, ngoài việc đưa lao động thực tập sinh (chủ yếu lao động phổ thông) sang Nhật Bản làm việc mới đây, bắt đầu từ 1/4/2019 Nhật Bản đã tiếp nhận thêm lao động đặc định của Việt Nam.

Ông Nguyễn Thanh Liêm – Phó Cục trưởng Cục Quản lý lao động ngoài nước (Bộ LĐTBXH) cho biết, việc hợp tác đưa lao động đặc định sang Nhật Bản là một cơ hội lớn để Việt Nam XKLĐ có kỹ năng sang Nhật. So với thực tập sinh kỹ năng, lao động đặc định phải đáp ứng được nhiều tiêu chuẩn, điều kiện hơn như: Trình độ tiếng Nhật phải từ N3 trở lên, lao động phải có kỹ thuật cao, trải qua các kỳ thi tiếng Nhật và thi chuyên môn...

Mới đây, để siết chặt việc tuyển dụng, XKLĐ với đối tượng lao động đặc định (visa đặc định) phía Nhật Bản và Việt Nam đã ký thỏa thuận MOC. Theo quy định tại MOC, phía Nhật Bản chỉ tiếp nhận lao động "kỹ năng đặc định" người Việt Nam sau khi người lao động đã thực hiện các thủ tục cần thiết theo quy định của pháp luật Việt Nam và có tên trong "Danh sách xác nhận".

Việc tuân thủ MOC sẽ giúp loại trừ các cơ quan trung gian xấu và các hoạt động trái pháp luật liên quan đến lao động kỹ năng đặc định. Theo đó MOC quy định cụ thể đối tượng được tham gia cấp visa đặc định. Cụ thể, ngoài những lao động có chuyên môn kỹ thuật cao tại Việt Nam, có 2 đối tượng đang cư trú tại Nhật có thể tham gia lao động đặc định đó là thực tập sinh kỹ năng hết thời gian thực tập và du học sinh đã kết thúc quá trình du học, hoặc ít nhất là sau 2 năm tham gia các chương trình này.

Ông Nguyễn Thanh Liêm cho biết thêm: “Mọi vấn đề chi phí, đi lại, thi tiếng, thi chuyên môn sẽ do Nhật Bản hỗ trợ và được phía Việt Nam giám sát để tránh những phát sinh bất lợi cho lao động. Văn bản MOC được ký kết để hạn chế những cá nhân, lợi dụng việc thực tập kỹ năng đưa lao động sang làm việc như lao động đặc định”.

Ông Doãn Mậu Diệp - Thứ trưởng Bộ LĐTBXH cho rằng, gọi là XKLĐ đặc định nhưng các ngành nghề về Nhật Bản tiếp nhận vẫn như vậy. Có 14 ngành nghề cơ bản như: Xây dựng; vệ sinh công nghiệp cao, nông nghiệp; may mặc, điều dưỡng, y tá, hộ lý, bác sĩ... “So với thực tập sinh kỹ năng tham gia chương trình và trở thành lao động đặc định, lao động sẽ nhận được mức lương và chế độ phúc lợi cũng tốt hơn” – ông Diệp thông tin.

Rộng cửa xuất khẩu lao động sang Nhật Bản

tháng 7 03, 2019 Add Comment
Trong khuôn khổ chuyến thăm của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tới Nhật Bản vừa qua, đã diễn ra lễ ký kết ghi nhớ hợp tác giữa Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Việt Nam với Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi xã hội Nhật Bản, Cơ quan Cảnh sát quốc gia Nhật Bản về khung pháp lý cơ bản để thực hiện đúng chương trình “Lao động kỹ năng đặc định”; ký kết ghi nhớ giữa Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Việt Nam và Viện Công nghệ Quốc gia KOSEN Nhật Bản về việc tiếp tục các hoạt động hợp tác nhằm hướng tới mô hình đào tạo KOSEN tại Việt Nam. Đây là khung khổ pháp lý quan trọng để rộng mở cơ hội cho lao động và du học sinh Việt Nam sang Nhật Bản học tập và làm việc.

Rộng cửa xuất khẩu lao động sang Nhật Bản

Quốc hội Nhật Bản đã thông qua chính sách mới mở rộng cửa chào đón lao động nước ngoài đến làm việc tại Nhật Bản, có hiệu lực từ 1-4-2019. Dự kiến trong vòng 5 năm tới, Nhật Bản sẽ tiếp nhận tối đa 345.500 người vào làm việc trong 14 ngành nghề. Đây sẽ là cơ hội tốt cho lao động Việt Nam muốn tìm kiếm các công việc kỹ thuật cao, mức lương hợp lý, tiếp cận với công nghiệp hiện đại...

Do tỷ lệ sinh thấp và già hóa dân số, Nhật Bản đang gặp tình trạng thiếu hụt nhân lực trầm trọng, còn chất lượng lao động của Việt Nam ngày càng được nâng cao, nhất là về trình độ chuyên môn, tiếng Nhật, năng lực, kỹ năng nghề và ý thức kỷ luật. Vì vậy, số lượng được tiếp nhận vào Nhật Bản tăng rất nhanh. Nhật Bản sẵn sàng dành cơ hội cho những lao động phổ thông và nhiều vị trí làm việc cho những lao động trí thức Việt Nam thông qua những con đường như tu nghiệp sinh, du học hay xuất khẩu lao động. Theo số liệu thống kê gần đây, số lượng lao động Việt Nam tại Nhật Bản là gần 150.000 người, trong đó thực tập sinh theo chương trình thực tập kỹ năng chiếm phần lớn, với 131.000 người - dẫn đầu 15 nước đưa thực tập sinh sang làm việc tại nước này. Đặc biệt, tháng 2-2018, đoàn hộ lý đầu tiên của Việt Nam đã dự thi và đạt tỷ lệ đỗ 93,7% - cao hơn nhiều so với tỷ lệ đỗ bình quân của hộ lý người Nhật Bản (trên 70%).

So với các thị trường lao động khác, cuộc sống, điều kiện làm việc của tu nghiệp sinh ở Nhật Bản tương đối tốt, ổn định với mức lương khá hấp dẫn. Doanh nghiệp Nhật Bản rất mong muốn tiếp nhận lao động Việt Nam bởi ý thức kỷ luật, cần cù chịu khó, thông minh, nhanh nhẹn, có tinh thần hợp tác. Tuy nhiên, dù cơ hội mở rộng như vậy, nhưng cần thấy rõ một điều, Nhật Bản sẽ không tiếp nhận lao động từ những quốc gia không thực hiện đầy đủ trách nhiệm nhận trở lại người bị trục xuất. Đồng thời, Nhật Bản sẽ thận trọng xem xét visa cho công dân các quốc gia hiện có nhiều người cư trú bất hợp pháp, tội phạm, phá hợp đồng lao động tại Nhật Bản. Những quốc gia có việc tuyển dụng không minh bạch, có nhiều công ty môi giới bất hợp pháp, giả mạo giấy tờ sẽ nằm trong danh sách những nước hạn chế cấp visa loại này. Do đó, chúng ta sẽ phải có những hành động quyết liệt hơn để ngăn chặn các hiện tượng có thể ảnh hưởng tới uy tín của người lao động Việt Nam.

Hơn bao giờ hết, để tận dụng cơ hội, các ngành và địa phương cần chấn chỉnh các trung tâm tư vấn du học, các công ty đưa du học sinh sang Nhật Bản để nâng cao trình độ đào tạo lao động, chấm dứt việc cấp bằng không đúng trình độ. Đồng thời nghiêm cấm các công ty môi giới bất hợp pháp, những công ty đưa ra các thông tin không đúng sự thật, làm người lao động bị sai lệch thông tin. Cùng với đó, để cạnh tranh được với các lao động nước khác, lao động Việt Nam cũng phải trang bị kiến thức ngoại ngữ, kỹ năng chuyên môn nhất định và quan trọng nhất là kỷ cương, kỷ luật lao động. Ban quản lý lao động, Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản cần tăng cường giám sát việc thực hiện hợp đồng của các bên, chủ động phối hợp với các công ty Nhật Bản để kịp thời giải quyết những vấn đề phát sinh, hỗ trợ lao động người Việt được làm việc trong môi trường tốt nhất và ngày càng có uy tín trên thị trường lao động Nhật Bản.

Việt Nam, Nhật Bản trao đổi biên bản hợp tác về tiếp nhận lao động kỹ năng đặc định

tháng 7 01, 2019 Add Comment
Ngày 1/7, tại Tokyo, các cơ quan chức năng của Việt Nam và Nhật Bản đã trao đổi Bản ghi nhớ hợp tác (MOC) về việc đưa lao động kỹ năng đặc định Việt Nam sang làm việc tại Nhật Bản.

Việt Nam, Nhật Bản trao đổi biên bản hợp tác về tiếp nhận lao động kỹ năng đặc định

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Thủ tướng Nhật Bản Abe Shinzo chứng kiến Lễ trao Bản ghi nhớ hợp tác giữa Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Việt Nam với Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Bộ Y tế Lao động và Phúc lợi xã hội và Cơ quan Cảnh sát Nhật Bản về khung pháp lý cơ bản để thực hiện đúng Chương trình ‘Lao động kỹ năng đặc định’. Ảnh: Thống Nhất –TTXVN

Việc trao đổi biên bản được thực hiện dưới sự chứng kiến của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe. 

Văn bản này được ký giữa Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (MOLISA) của Việt Nam và bốn cơ quan của Nhật Bản gồm: Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Bộ Y tế, Lao động, Phúc lợi Xã hội và Cơ quan Cảnh sát Quốc gia Nhật Bản. Đây sẽ là khung pháp lý cơ bản cho việc Nhật Bản tiếp nhận lao động Việt Nam theo chương trình “lao động kỹ năng đặc định”. 

Theo biên bản này, phía Nhật Bản sẽ chỉ tiếp nhận lao động “kỹ năng đặc định” người Việt Nam sau khi người lao động đã thực hiện các thủ tục cần thiết theo quy định của pháp luật Việt Nam và có tên trong “danh sách xác nhận” được cấp bởi MOLISA. Các đối tượng này gồm những lao động được phái cử bởi các tổ chức, doanh nghiệp được MOLISA cho phép đưa lao động kỹ năng đặc định đi làm việc ở Nhật Bản và những công dân Việt Nam đang cư trú tại Nhật Bản đã được cơ quan tiếp nhận lao động tuyển dụng trực tiếp. 

Văn bản này nghiêm cấm các công dân Việt Nam đang cư trú tại Nhật Bản trong tình trạng không đủ điều kiện như du học sinh bị đuổi học, thực tập sinh bỏ ra ngoài hợp đồng hoặc những người xin tư cách tị nạn tham gia các kỳ kiểm tra kỹ năng tại Nhật Bản. 

Liên quan đến du học sinh Việt Nam thay đổi tư cách lưu trú sang lao động kỹ năng đặc định, hai bên sẽ có những biện pháp phù hợp bao gồm kiểm tra chặt chẽ các cơ sở đào tạo nhằm ngăn chặn việc lợi dụng các chương trình du học cho mục đích làm việc tại Nhật Bản từ góc độ tôn trọng quyền con người cơ bản. 

Về quyền lợi của người lao động, theo MOC, lao động kỹ năng đặc định lưu trú tại Nhật Bản được hưởng các quyền lợi theo luật nhập cư, luật lao động và các quy định pháp luật khác có liên quan của Nhật Bản. Ngoài ra, người lao động sẽ được hưởng các quyền lợi khác liên quan tới chi phí cho việc đào tạo tiếng Nhật hoặc đào tạo kỹ năng, chi phí đi lại bao gồm chi phí trở về Việt Nam sau khi chấm dứt hợp đồng lao động của các lao động kỹ năng đặc định. 

Về ngành nghề, khu vực Việt Nam cấm đưa lao động đến làm việc, phía Nhật Bản cam kết “không tiếp nhận lao động kỹ năng đặc định người Việt Nam chưa hoàn thành các thủ tục cần thiết theo quy định của Việt Nam bao gồm cả quy định về các khu vực, ngành nghề cấm” (quy định tại Nghị định số 126/2007/NĐ-CP ngày 01/8/2007 của Chính phủ). 

Cũng trong văn bản này, hai bên thống nhất việc chia sẻ và công khai thông tin về cơ quan tổ chức được phép phái cử hoặc tiếp nhận lao động kỹ năng đặc định sang làm việc tại Nhật Bản, đồng thời đưa vào cam kết của các Bộ của hai nước trong việc phối hợp quản lý, giám sát nhằm loại bỏ ra khỏi chương trình phái cử và tiếp nhận lao động kỹ năng đặc định những cơ quan tổ chức xấu, có hành vi vi phạm luật pháp của hai nước và các quy định nêu trong MOC; ngăn chặn các hoạt động đưa lao động kỹ năng đặc định sang Nhật Bản trá hình dưới hình thức du học.

Quảng Bình: Giải quyết việc làm cho 18.300 lao động

tháng 6 24, 2019 Add Comment
6 tháng đầu năm, tỉnh Quảng bình đã giải quyết việc làm cho khoảng 18.300 lao động, trong đó: tạo việc làm cho khoảng 9.700 lao động. Xuất khẩu lao động khoảng 1.700 lao động.

Trong những tháng đầu năm, tỉnh Quảng Bình đã giải quyết việc làm cho 18.300 lao động, trong đó: tạo việc làm cho khoảng 9.700 lao động. Xuất khẩu lao động khoảng 1.700 lao động (đạt 51,37% kế hoạch năm), chủ yếu là đi Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc (chiếm khoảng 62% lao động xuất cảnh).

Từ đầu năm, Sở Lao động-Thương binh và Xã hội Quảng Bình đã tham mưu cho UBND tỉnh ban hành quyết định cấp giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm cho 01 doanh nghiệp; tham mưu UBND tỉnh trình Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội xem xét, quyết định cấp giấy phép hoạt động dịch vụ đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng cho 01 doanh nghiệp. Chấp thuận nhu cầu sử dụng người lao động nước ngoài của 15 doanh nghiệp, tổ chức; cấp, cấp lại 41 giấy phép lao động và xác nhận 02 trường hợp không thuộc diện cấp giấy phép lao động cho người lao động nước ngoài làm việc trên địa bàn tỉnh. Trả lời 18 đơn thư về giải quyết chế độ Bảo hiểm xã hội. Phối hợp, hỗ trợ Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tổ chức Hội nghị tuyên truyền chính sách Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm thất nghiệp cho các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh; trình UBND tỉnh phân bổ kinh phí thực hiện công tác lao động - việc làm năm 2019.

Quảng Bình: Giải quyết việc làm cho 18.300 lao động
Người lao động đến Trung tâm DVVL Quảng Bình tư vấn việc vàm

Trung tâm Dịch vụ việc làm tổ chức 18 phiên giao dịch việc làm; có 11.936 lượt người lao động được tư vấn; 2.148 lượt người được giới thiệu việc làm; xuất khẩu lao động cho 169 người; ban hành quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 1.212 người.

Từ nay đến cuối năm, ngành LĐ,TB&XH Quảng Bình tiếp tục tập trung chỉ đạo các địa phương triển khai các giải pháp để tạo việc làm cho lao động. Phối hợp tuyên truyền các chủ trương, chính sách về việc làm và xuất khẩu lao động. Tổ chức giám sát, chỉ đạo các địa phương triển khai đảm bảo chất lượng, đúng tiến độ công tác điều tra ghi chép cung - cầu lao động; công tác giải quyết việc làm và vốn vay quỹ hỗ trợ việc làm. Tiếp tục rà soát và thu hồi giấy phép lao động đã hết thời hạn của người lao động nước ngoài; thẩm định hồ sơ các doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm trình UBND tỉnh xem xét, cấp giấy phép hoạt động; thẩm định đăng ký Nội quy lao động, tiếp nhận thỏa ước lao động tập thể của các doanh nghiệp; thông báo các doanh nghiệp đến tuyển xuất khẩu lao động.

Hơn 54.000 lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài trong 5 tháng đầu năm 2019

tháng 6 06, 2019 Add Comment
Theo số liệu từ Hiệp hội Xuất khẩu lao động Việt Nam, chỉ tính riêng trong 5 tháng đầu năm 2019, số lượng lao động Việt Nam đi làm việc tại nước ngoài là 54.144 lao động, tăng 12,02% so với 5 tháng đầu năm 2018. Riêng trong tháng 5, các doanh nghiệp đã cung ứng được 12.419 lao động, tăng 32,37% so với tháng 4 liền kề.

Hơn 54.000 lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài trong 5 tháng đầu năm 2019


Cụ thể số lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài trong 5 tháng đầu năm 2019 như sau:

So với các khu vực, Đông Bắc Á vẫn là thị trường thu hút nhiều lao động nhất với 52.136 lao động, chiếm tỷ trọng 96% tổng số lao động đưa đi làm việc tại nước ngoài, tăng 13,79% số lượng lao động đưa đi so với cùng kỳ năm trước.

Trong đó, lao động đi làm việc tại Đài Loan là 20.732 người, giảm 17,77% so với cùng kỳ năm trước. Quy mô lao động đi làm việc tại Đài Loan vẫn chiếm tỷ trọng cao so với các thị trường khác với tỷ trọng là 39,76% số lao động đưa đi trong khu vực này và 38,29% so với tổng số lao động đưa đi trong 5 tháng đầu năm 2019.

Bình quân thị trường này mỗi tháng tiếp nhận 4.146 người, riêng tháng 5, Đài Loan tiếp nhận 5.746 người, tăng 43,29% so với tháng 04 liền kề; Thị trường Nhật Bản là 28.394 người, tăng 63,02% so với số lượng cung ứng cùng kỳ năm trước; Hàn Quốc là 2.890 người và Macao là 73 người.

Bên cạnh đó, Nhật Bản là nước trong khu vực Đông Bắc Á có quy mô thực tập sinh chiếm tỷ trọng cao nhất so với các thị trường khác với tỷ trọng 54,46% số lao động đưa đi trong khu vực này và 52,44% so với tổng số lao động đưa đi trong 5 tháng đầu năm 2019.

Đối với Khu vực Đông Nam Á trong 5 tháng đầu năm 2019 thu hút 259 lao động Việt Nam, chủ yếu tập trung ở Malaysia, Singapor, Thái Lan, Philippin.

Khu vực Trung Đông tiếp nhận 625 lao động, chiếm 1,15% tổng số lao động đưa đi, giảm 44,59% so với số lao động đưa đi cùng kỳ năm trước, các doanh nghiệp chỉ cung ứng lao động cho 5 thị trường đó là Ả Rập Xê-Út: 489 người, Qatar: 4 người, UAE: 28 người, O man: 20 người và Kuwait: 84 người.

Số lao động đi làm việc tại các nước Châu Phi là 229 người, chiếm 0,42% tổng số lao động đưa đi, giảm 57,51% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, chỉ có 1 thị trường tiếp nhận lao động, đó là: Algieri.

Lao động đi làm việc tại khu vực Châu Âu là 833 người, chiếm 1,61% tổng số lao động đưa đi. Trong đó, thị trường CH Sip: 43 người, Rumani: 714 người, Bungari: 07 người, Hungari: 43 người, Belarus: 02 người, Ba Lan: 61 người và Ý: 06 người. Hiện số lao động này có việc làm ổn định và thu nhập tốt. Còn lại các thị trường khác chỉ chiếm khoảng 0,05%

Nếu trong 5 tháng đầu năm 2019 có 25 thị trường tiếp nhận lao động Việt Nam (tăng 4 thị trường so với 5 tháng đầu năm 2018) thì chỉ có 4 thị trường tiếp nhận với quy mô từ 500 lao động trở lên bao gồm thị trường: Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc và Rumani.

Như vậy, trong 5 tháng đầu năm 2019, thị trường tiếp nhận lao động Việt Nam xếp theo thứ tự thị phần từ cao xuống thấp như sau: Đông Bắc Á, Khu vực Châu Âu, Trung Đông, Đông Nam Á, Bắc phi và khu vực khác. Thị phần lao động lớn nhất  tập trung vào các nước (lãnh thổ) thuộc khu vực Đông Bắc Á. Xu hướng trong các tháng tới các thị trường này vẫn tiếp tục có nhu cầu lớn tiếp nhận lao động VN, đặc biệt là hai thị trường Đài Loan và Nhật Bản – Đây là hai thị trường hiện tiếp nhận lao động VN với quy mô lớn nhất, chiếm gần 91% tổng số lao động đi trong năm tháng qua.

Khu vực Châu Âu có xu hướng gia tăng thị phần, bên cạnh đó có sự suy giảm đáng kể về quy mô lao động sang thị trường một số nước tại khu vực Trung Đông (UAE, Qatar. Cô oét), đây là một thực trạng cần được nghiên cứu, đánh giá để có những điều chỉnh phù hợp hơn trong thời gian tới với định hướng gia tăng hơn nữa lao động cung ứng vào các thị trường này.

Vì sao tỷ lệ người đi xuất khẩu lao động ở Đồng Tháp tăng?

tháng 5 28, 2019 Add Comment
Chỉ sau 5 năm tái khởi động, xuất khẩu lao động (XKLĐ) được xem như “cánh đồng công nghiệp” của Đồng Tháp. Ở đó không chỉ giải quyết cho hàng nghìn lao động vươn lên thoát nghèo, mỗi năm mang về cho tỉnh hàng trăm tỷ đồng, mà còn tạo nguồn nhân lực chất lượng cao để gieo cấy “mùa vàng” tại quê hương trong tương lai không xa.

Đổi đời nhờ xuất khẩu lao động


Đã thành thông lệ, cứ đều đặn các thành viên trong Câu lạc bộ "Những người có con em đi xuất khẩu lao động" của xã Thông Bình, huyện Tân Hồng (Đồng Tháp) có mặt đông đủ tham gia sinh hoạt. Nội dung các buổi sinh hoạt không chỉ thông báo về kết quả lao động, số tiền tiết kiệm được của từng người, mà từng thành viên câu lạc bộ còn trao đổi thông tin, thảo luận các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực lao động xuất khẩu. Tham gia buổi sinh hoạt của câu lạc bộ, chúng tôi còn được biết, không chỉ giúp hộ nghèo vươn lên, XKLĐ còn giúp nhiều kỹ sư, cử nhân có được việc làm ổn định với mức thu nhập cao. Điển hình như trường hợp của anh Lê Nhựt Trường, ở xã Tịnh Thới, TP Cao Lãnh, sau khi tốt nghiệp ngành cơ điện ở Trường Đại học Cần Thơ nhưng không tìm được việc làm. Đầu năm 2014, anh Trường tham gia XKLĐ tại Nhật Bản và làm trong công ty chuyên về cơ khí (sản xuất líp xe đạp). Qua 3 năm làm việc ở Nhật Bản, trừ hết các khoản chi phí, anh còn dư được gần 1 tỷ đồng. Anh Trường chia sẻ: “Lúc ở Nhật Bản, ngoài thời gian lao động trong công ty, tôi còn tranh thủ học thêm tiếng Nhật để chuẩn bị hành trang sau này. Tháng 2-2017, khi hết hạn hợp đồng lao động, trở về quê, tôi được Trung tâm Dịch vụ việc làm Đồng Tháp nhận vào dạy tiếng Nhật cho những người có nhu cầu đi lao động nước ngoài. Giờ đây, ngoài số tiền tích lũy trong quá trình làm việc tại Nhật Bản, tôi còn có thêm việc làm với mức lương tương đối ổn định”.


Vì sao tỷ lệ người đi xuất khẩu lao động ở Đồng Tháp tăng?
Bộ đội xuất ngũ tham gia lớp đào tạo nghề trước khi XKLĐ.


Điểm sáng trong XKLĐ ở Đồng Tháp còn phải kể đến là việc đưa bộ đội xuất ngũ đi lao động ở nước ngoài. Đến nay, toàn tỉnh có khoảng 500 lao động là bộ đội xuất ngũ làm việc tại các nước, như: Nhật Bản, Hàn Quốc... Theo bà Nguyễn Thị Minh Tuyết, Giám đốc Trung tâm Dịch vụ việc làm tỉnh Đồng Tháp: Tổ chức cho bộ đội xuất ngũ đi lao động nước ngoài là hướng đi mới của Đồng Tháp và hiện đã cho thấy kết quả đáng mừng. Những lao động này được doanh nghiệp đánh giá rất cao và ưu tiên lựa chọn. Bởi sau một thời gian rèn luyện trong quân đội, phần lớn thanh niên đều xây dựng cho mình tính kỷ luật, tác phong nhanh nhẹn, sự gọn gàng ngăn nắp, đoàn kết, hòa đồng và sức khỏe tốt… Đây là những yếu tố mà doanh nghiệp nước ngoài rất cần ở người lao động.

“Năm nay, được sự đồng ý của Bộ CHQS tỉnh Đồng Tháp, trung tâm đến tư vấn, hướng nghiệp cho quân nhân sắp xuất ngũ đi học nghề, miễn phí 100% học phí và bảo đảm việc làm sau tốt nghiệp từ 95% trở lên. Riêng ngành cơ khí, xây dựng, trung tâm bảo đảm việc làm cho 100% người học”, bà Tuyết cho biết thêm.

Nhiều cách làm hay

Để tăng tính hiệu quả trong tổ chức cho người lao động đi làm việc tại nước ngoài, Đồng Tháp không chỉ đẩy mạnh việc thành lập các câu lạc bộ, hội, nhóm “Những người có con em đi xuất khẩu lao động”, mà còn chủ động đổi mới việc lựa chọn thị trường và doanh nghiệp XKLĐ theo hướng chọn doanh nghiệp có năng lực, có trách nhiệm và thị trường có điều kiện làm việc hiện đại, thu nhập ổn định ở mức cao, như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc)... để hợp tác. Nhờ đó phong trào XKLĐ ở tỉnh ngày càng lan rộng; tỷ lệ người tham gia XKLĐ ngày càng tăng, đặc biệt chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng tốt yêu cầu của các doanh nghiệp.

Theo bà Nguyễn Thị Minh Tuyết, 100% lao động khi đi làm việc ở nước ngoài đều được tỉnh đào tạo khá toàn diện từ học nghề, học ngoại ngữ đến việc tìm hiểu phong tục, tập quán của người dân bản địa… “Do chuẩn bị khá kỹ nên chất lượng nguồn nhân lực của Đồng Tháp đáp ứng yêu cầu của nhiều doanh nghiệp… Theo đó, tỷ lệ người lao động ở Đồng Tháp được các doanh nghiệp tuyển dụng rất cao và luôn giữ được sự tin tưởng", bà Minh Tuyết cho biết.

Cùng với giải pháp tuyên truyền, tổ chức đào tạo, hiện Đồng Tháp là một trong những địa phương đi đầu và thực hiện thành công chính sách vay vốn theo hình thức tín chấp đối với lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo hợp đồng. Theo đó, bằng nguồn vốn Trung ương và địa phương, thông qua hệ thống Ngân hàng Chính sách xã hội, Đồng Tháp đã hỗ trợ vay tín chấp từ 90% đến 100% chi phí đi XKLĐ. Ngoài ra, trung tâm dịch vụ việc làm của tỉnh cũng hỗ trợ người lao động học nghề, ngoại ngữ, khám sức khỏe, lệ phí visa...

Không chỉ hỗ trợ bước đầu, Đồng Tháp còn chủ động xây dựng cả phương án phát huy lợi thế “hậu XKLĐ”. Theo đó, Đồng Tháp đã liên kết mở thêm kênh du học, nhằm tạo cơ hội cho người lao động đủ điều kiện đi tu nghiệp chương trình đại học để có việc làm gắn với chức danh nghề nghiệp, tạo ra sự ổn định lâu dài; giới thiệu việc làm, hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp sau khi hết hạn lao động trở về địa phương.

Đồng chí Lê Minh Hoan, Bí thư Tỉnh ủy Đồng Tháp, cho biết: "Việc đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, nhất là các nước phát triển là chủ trương lớn được cấp ủy, chính quyền các cấp ở Đồng Tháp hết sức quan tâm. Vì vậy, Đồng Tháp sẽ đồng hành và tạo điều kiện thuận lợi để người dân, nhất là bộ đội xuất ngũ đi XKLĐ. Bởi qua đó, người lao động vừa có việc làm, thu nhập ổn định, vừa học hỏi được tác phong lao động từ các nước tiên tiến. Đây là tài sản để mỗi người tự đi được trên hành trình lập nghiệp của mình. Theo đó, Đồng Tháp xem việc lao động đi làm việc ở nước ngoài là cách đào tạo nguồn nhân lực cho tương lai góp phần tái cơ cấu nông nghiệp của địa phương”.

Hơn 41.700 lao động đi làm việc ở nước ngoài trong 4 tháng

tháng 5 08, 2019 Add Comment
Theo số liệu mới nhất của Cục Quản lý lao động ngoài nước (Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội) ttrong 4 tháng đầu năm 2019, tổng số lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là 41.725 lao động.

Hơn 41.700 lao động đi làm việc ở nước ngoài trong 4 tháng
Lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài.

Với hơn 41.700 lao động đi làm việc ở nước ngoài trong 4 tháng đầu năm, con số này đã đạt 34,8% kế hoạch xuất khẩu lao động năm 2019.

Đáng chú ý,  trong 4 tháng đầu năm, thị trường Nhật Bản tiếp tục dẫn đầu với 23.253 lao động sang làm việc ở nước này, tiếp đến là Đài Loan 14.986 lao động, Hàn Quốc 1.853 lao động Romani 496 lao động, Saudi Arabia 396 lao động, Algeria 218 lao động, Malaysia 203 lao động và các thị trường khác.

Chỉ riêng trong tháng Tư, tổng số lao động đi làm việc ở nước ngoài là 9.382 lao động, gồm các thị trường: Nhật Bản: 4.197 lao động, Đài Loan: 4.010 lao động, Hàn Quốc: 876 lao động, Saudi Arabia: 112 lao động, Romania: 111 lao động và các thị trường khác.

Trong những tháng tiếp theo, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội tiếp tục thực hiện các biện pháp ổn định thị trường cũ, mở rộng thị trường lao động nước ngoài mới, chú trọng thị trường có thu nhập cao, phù hợp với trình độ, kỹ năng của người lao động.

Bên cạnh đó, Bộ Lao động-Thương cũng tăng cường công tác quản lý, bảo vệ quyền lợi của lao động đi làm việc ở nước ngoài, có biện pháp tập hợp, sử dụng hiệu quả đội ngũ lao động đã đi làm việc ở nước ngoài trở về.

Những “miền đất hứa” của lao động Việt trong năm 2019

tháng 5 03, 2019 Add Comment
Thời gian qua, ngoài những thị trường xuất khẩu lao động truyền thống như: Đài Loan, Malaysia, Thái Lan, nhiều thị trường trọng điểm mới đang nổi lên như một “vùng đất hứa” với lao động Việt Nam khi đi làm việc ở nước ngoài như Hàn Quốc, Nhật Bản, Nga, Úc...

Theo thông tin từ Cục Quản lý lao động ngoài nước (Bộ LĐTBXH), năm 2018 là năm thứ 3 liên tiếp, số lượng lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài vượt mức 100.000 lao động. Cụ thể, năm 2018 có 142.860 lao động Việt Nam đi làm việc ở hơn 40 quốc gia và vùng lãnh thổ, vượt 30% so với kế hoạch đề ra và tăng hơn 6% so với con số trong năm 2017.

Ông Nguyễn Gia Liêm – Phó Cục trưởng Cục Quản lý lao động ngoài nước cho biết: “Bên cạnh việc duy trì các thị trường truyền thống, chúng ta đã có những nỗ lực thúc đẩy tìm kiếm cơ hội việc làm tại thị trường tiềm năng là Nhật Bản. Nhờ vậy, trong năm 2018, thị trường xuất khẩu lao động đi Nhật Bản đã vươn lên soán ngôi đầu thay vì thị trường Đài Loan như năm 2017. Năm 2018, chúng ta đã đưa được hơn 68.000 lao động đi Nhật Bản làm việc và con số này ở Đài Loan là hơn 60.000”.

Dự kiến trong năm 2019, con số lao động đi làm việc ở thị trường này sẽ còn tăng cao hơn nữa do nước này bắt đầu áp dụng Luật Lao động mới, cho phép người lao động ở lại lâu hơn (từ 3 lên 5 năm).

Những “miền đất hứa” của lao động Việt trong năm 2019
Với nhiều chính sách cởi mở, dự báo năm 2019 thị trường Nhật Bản sẽ là thị trường tiềm năng nhất để lao động Việt sang làm việc.

Về thị trường xuất khẩu lao động mới, theo ông Liêm, năm 2019 chủ yếu tập trung các thị trường lớn, thu nhập tốt theo lựa chọn của người lao động. Trong đó có một số thị trường lớn như Đức, hay một số nước châu Âu cũng đang được đoàn lãnh đạo cấp cao gặp gỡ song phương để ký kết hợp tác lao động.

Cùng đó, hiện Úc mới đưa ra chính sách mới tiếp nhận lao động nước ngoài trong lĩnh vực nông nghiệp tới vùng Bắc Úc. Hiện các cơ quan Việt Nam đang xúc tiến các bước để có thể đưa người lao động Việt đi theo chính sách này. Ngoài ra, thị trường Rumania cũng đang được xúc tiến.

Mới đây trong cuộc Hội thảo giữa Bộ LĐTBXH và Cục Lao động và Việc làm của Liên Bang Nga, ông Ivankov Mikhail Yurievich - Phó Thủ trưởng Cục Lao động và Việc làm Liên Bang Nga cũng đã đề cập đến triển vọng hợp tác về lao động giữa Việt Nam và Liên bang Nga.

Ông Ivankov Mikhail Yurievich cho biết, năm 2018, nhu cầu của Liên bang Nga trong việc huy động lao động từ Việt Nam là khoảng 15.000 người (chiếm 10,4% tổng nhu cầu của Liên bang Nga trong huy động lao động nước ngoài). Tính đến hết tháng 9.2018, thống kê cho thấy gần 12.000 lao động Việt Nam sang làm việc tại Liên Bang Nga. Dự kiến con số lao động Việt Nam đi làm việc tại Liên Bang Nga có thể sẽ tăng gần gấp đôi trong năm 2019.

“Những lao động đi làm việc ở các thị trường trọng điểm có mức thu nhập cao hơn rất nhiều so với lao động đi làm việc ở các thị trường truyền thống. Cụ thể mức thu nhập ở Đài Loan là từ 10-15 triệu đồng/người/tháng; Thái Lan từ 10-20 triệu đồng/người tháng; Hà Quốc là 35-50 triệu đồng/người/ tháng; Nhật Bản là từ 20 triệu đồng – 40 triệu đồng/người/tháng".

Tiếp tục nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

tháng 4 22, 2019 Add Comment
Xuất khẩu lao động được xem là một thị trường tiềm năng, khi mỗi năm mang về cho đất nước trên dưới 2 tỷ USD. Hiện lao động Việt Nam được nhiều nước ưa chuộng, chẳng hạn như Nhật Bản, thế nhưng để có thể nâng cao giá trị lao động xuất khẩu, cần chuyên nghiệp hoá khâu đào tạo.

Theo Cục Quản lý lao động ngoài nước (Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội), trong 5 năm trở lại đây số lượng người lao động (LĐ) đi nước ngoài làm việc hàng năm là 100 nghìn người và tăng đều mỗi năm khoảng 10 nghìn người.

Số LĐ làm việc ở nước ngoài tập trung ở các thị trường có thu nhập khá cao như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc) chiếm khoảng trên 90% và một số nước Đông Âu với các ngành nghề cơ khí, sản xuất, chế tạo.


Tiếp tục nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Xuất khẩu lao động đem lại nguồn lực lớn cho đất nước.

Nhật Bản, trong 3 năm gần đây, đã thông qua 2 luật về tiếp nhận LĐ nước ngoài bao gồm: Luật về chương trình thực tập kỹ năng người nước ngoài (năm 2016) và Luật sửa đổi Luật Xuất nhập cảnh và tỵ nạn, trong đó cho phép tiếp nhận LĐ kỹ năng đặc định người nước ngoài làm việc tại Nhật Bản (năm 2018), đồng thời người LĐ đi theo hình thức thực tập kỹ năng hoặc LĐ kỹ năng đặc định được thực tập và làm việc với thời hạn 5 năm.

Đài Loan cũng sửa đổi chính sách cho phép người LĐ nước ngoài được tái nhập cảnh vào làm việc, cũng như kéo dài thời hạn làm việc. Mặc dù tình trạng thất nghiệp của LĐ trong nước tăng lên so với trước đây, nhưng Hàn Quốc vẫn duy trì hạn ngạch nhập LĐ nước ngoài đến làm việc, đồng thời mở ra hướng tiếp nhận LĐ đến làm việc trong lĩnh vực ngư nghiệp và nông nghiệp.

Theo các chuyên gia LĐ, tuy thị trường xuất khẩu LĐ của Việt Nam rất rộng mở, nhưng chất lượng nguồn nhân lực LĐ Việt Nam vẫn còn rất nhiều hạn chế, trong đó tỷ lệ lao động trong độ tuổi đã qua đào tạo còn thấp, thiếu hụt LĐ có tay nghề cao nên vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động và hội nhập.

Tuy các thị trường LĐ ngoài nước vẫn đang tiếp nhận LĐ giản đơn, nhưng xu hướng chung của các chủ sử dụng LĐ và quy định của các nước vẫn muốn tiếp nhận LĐ qua đào tạo, có trình độ tay nghề và chuyên môn. Hơn nữa, đối với LĐ qua đào tạo thì có nhiều ưu điểm hơn về khả năng tiếp thu công việc, năng suất chất lượng hiệu quả LĐ và ý thức tổ chức kỷ luật LĐ.

Các chuyên gia cho rằng, đã đến lúc chúng ta không chỉ dựa vào lợi thế lao động phổ thông giá rẻ, mà phải nâng cao chất lượng lao động, giá trị xuất khẩu; nâng cao hình ảnh dân tộc, thương hiệu lao động.

Theo đó, ngay từ bây giờ không ngừng nâng cao bằng mọi cách, mọi giải pháp, để có thể gửi đi đội ngũ lao động có chất lượng, đáp ứng được những thị trường khó tính; tập trung tìm những giải pháp chủ yếu hướng đến đào tạo nghề nghiệp và giáo dục các thói quen, để lao động dễ dàng thích nghi với công nghệ kỹ thuật cao, văn hóa của nước sở tại.

Cũng theo các chuyên gia, để nâng cao chất lượng nguồn lao động xuất khẩu ra nước ngoài bên cạnh đòi hỏi ý thức bản thân người học còn phải có sự chung tay của các trường lẫn doanh nghiệp trong đào tạo kỹ năng nghề, làm việc theo nhóm. Các doanh nghiệp xuất khẩu lao động rất cần đến sự hỗ trợ của các cơ quan quản lý địa phương, phối hợp với trung tâm dịch vụ việc làm, đặc biệt liên kết với các trường, cơ sở đào tạo giáo dục nghề nghiệp.

Đề xuất giải pháp thực hiện gắn kết đào tạo giáo dục nghề nghiệp với việc làm và xuất khẩu lao động (XKLĐ) trong thời gian tới, đại diện lãnh đạo Cục Quản lý LĐ ngoài nước- Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội cho rằng: Cần đẩy mạnh hỗ trợ doanh nghiệp trong việc mở rộng thị trường LĐ ngoài nước và công tác tạo nguồn LĐ có chất lượng, ý thức tổ chức kỷ luật, nâng cao trình độ cho người LĐ đi làm việc tại nước ngoài.

Kết nối chương trình phối hợp giữa các trường, cơ sở giáo dục nghề nghiệp và địa phương trong việc chuẩn bị nguồn nhân lực có chất lượng, trình độ đi làm việc tại nước ngoài.

Cùng đó, cần tăng cường tổ chức các khóa tập huấn, cung cấp thông tin thị trường LĐ nước ngoài, bồi dưỡng kiến thức về lĩnh vực đưa người LĐ Việt Nam đi làm việc tại nước ngoài cho cán bộ địa phương, doanh nghiệp XKLĐ đồng thời, xem xét đưa vào chương trình giảng dạy định hướng cho học sinh, sinh viên về thị trường LĐ trong và ngoài nước; trao đổi với một số nước về việc ký kết thỏa thuận hợp tác trong đào tạo nghề đạt chuẩn của các nước đó, hoặc công nhận chứng chỉ nghề được đào tạo tại các trường nghề của Việt Nam tương đương với các trường chuyên môn của nước tiếp nhận LĐ. Giới thiệu doanh nghiệp XKLĐ ký kết đặt hàng với các trường đào tạo nghề, đặc biệt là các nghề có tính chất đặc thù.

Cũng theo các chuyên gia, để nâng cao chất lượng nguồn lao động xuất khẩu ra nước ngoài bên cạnh đòi hỏi ý thức bản thân người học còn phải có sự chung tay của các trường lẫn doanh nghiệp trong đào tạo kỹ năng nghề, làm việc theo nhóm.

Các doanh nghiệp xuất khẩu lao động rất cần đến sự hỗ trợ của các cơ quan quản lý địa phương, phối hợp với trung tâm dịch vụ việc làm, đặc biệt liên kết với các trường, cơ sở đào tạo giáo dục nghề nghiệp.

Đề xuất giải pháp thực hiện gắn kết đào tạo giáo dục nghề nghiệp với việc làm và XKLĐ trong thời gian tới, đại diện lãnh đạo Cục Quản lý LĐ ngoài nước- Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội cho rằng: Cần đẩy mạnh hỗ trợ doanh nghiệp trong việc mở rộng thị trường LĐ ngoài nước và công tác tạo nguồn LĐ có chất lượng, ý thức tổ chức kỷ luật, nâng cao trình độ cho người LĐ đi làm việc tại nước ngoài.